- Sửa đổi, hoàn thiện khái niệm “thanh tra” theo hướng không phân biệt thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
Luật Thanh tra 2025 đã có sự thay đổi nổi bật so với quy định trước đây đó là hoàn thiện khái niệm “thanh tra” theo hướng không phân biệt thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành mà chỉ là thanh tra; phân định rõ hoạt động thanh tra với kiểm tra chuyên ngành về chủ thể, phạm vi, đối tượng, quy trình, trình tự, thủ tục.
Theo đó, khoản 1 Điều 2 Luật Thanh tra năm 2025 quy định: “Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, kết luận, kiến nghị xử lý của cơ quan thanh tra đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”.
Như vậy, quy định mới đã sửa đổi, bổ sung không quy định về thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành.
- Bổ sung thêm nhiệm vụ phòng, chống lãng phí cho các cơ quan thanh tra.
Một điểm mới trong Luật Thanh tra năm 2025 so với quy định trước đây đó là bổ sung thêm trách nhiệm phòng, chống lãng phí cho các cơ quan thanh tra. Đây là sự thay đổi rất kịp thời, mang tính thời sự bởi trên thực tế, nguồn lực của nhà nước không được sử dụng đúng cách, mục đích gây thất thoát, lãng phí. Cụ thể tại Điều 5 Luật Thanh tra 2025, cụ thểnhư sau: “Cơ quan thanh tra có chức năng giúp cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tiến hành thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo quy định của pháp luật.”
- Tổ chức, sắp xếp lại hệ thống tổ chức cơ quan thanh tra.
Theo đó, Luật Thanh tra năm 2025 có sự thay đổi rõ rệt trong việc tổ chức hệ thống cơ quan thanh tra, cụ thể theo quy định tại Điều 7 Luật Thanh tra năm 2025, không còn cơ quan thanh tra theo ngành, lĩnh vực, thanh tra chuyên ngành như trước đây. Hệ thống thanh tra sẽ được tổ chức lại như sau:
– Thanh tra Chính phủ.
– Thanh tra tỉnh, thành phố (sau đây gọi chung là Thanh tra tỉnh).
– Cơ quan thanh tra trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, bao gồm Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan thanh tra khác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo quy định của Chính phủ.
– Thanh tra Cơ yếu; Cơ quan thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên (sau đây gọi là Thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế).
- Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cho Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tỉnh và bỏ bớt một số điều khoản do thay đổi chính quyền khi còn 2 cấp địa phương
Vì có sự thay đổi, sắp xếp lại hệ thống tổ chức cơ quan thanh tra, nên nhiệm vụ, quyền hạn của một số cơ quan thanh tra theo Luật Thanh tra năm 2025 phần nhiều cũng được bổ sung thêm để đáp ứng, hoàn thành nhiệm vụ khi phạm vi thẩm quyền của các cơ quan này được mở rộng hơn. Cụ thể:
– Đối với Thanh tra Chính phủ: Tại Khoản 1 Điều 10 Luật Thanh tra 2025, đã bổ sung, tăng cường thêm một số nhiệm vụ của Thanh tra Chính phủ trong hoạt động thanh tra so với trước đây, cụ thể như sau:
+ Hướng dẫn Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Thanh tra Cơ yếu, Thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế, Thanh tra tỉnh xây dựng kế hoạch thanh tra và đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch thanh tra;
+ Thanh tra việc thực hiện, chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc quyền quản lý của Bộ không có Thanh tra Bộ.
+ Thanh tra việc chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ không có Thanh tra Bộ;
+ Vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý Nhà nước của nhiều bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh, cũng thuộc quyền thanh tra của Thanh tra Chính phủ;
+ Thanh tra lại vụ việc đã có kết luận của Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Thanh tra Cơ yếu, Thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế, Thanh tra tỉnh khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
– Đối với Thanh tra tỉnh: Tại Khoản 1 Điều 16 Luật Thanh tra năm 2025, đã được bổ sung, tăng cường thêm một số nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Tỉnh trong hoạt động thanh tra so với trước đây, cụ thể như sau:
+ Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân cấp xã; đơn vị, cá nhân thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã;
+ Thanh tra việc chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của các sở.
+ Đồng thời, quy định cụ thể về việc thanh tra đối với UBND cấp xã và cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp xã.
Bên cạnh đó, vì chính quyền cấp huyện đã bỏ nên Luật này cũng sửa đổi, bổ sung lược bỏ các quyền của Thanh tra tỉnh như là: Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra của Thanh tra sở, Thanh tra huyện và quyết định xử lý sau thanh tra của Giám đốc sở, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện khi cần thiết hay Thanh tra lại vụ việc thanh tra hành chính đã có kết luận của Thanh tra sở, Thanh tra huyện nhưng phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
- Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cho Tổng Thanh tra Chính phủ
Nhằm tăng cường mối quan hệ công tác giữa Thanh tra Chính phủ với các Bộ, giữa Thanh tra tỉnh với các Sở và Uỷ ban nhân dân cấp cơ sở và để có sự kiểm tra chéo. Luật Thanh tra năm 2025 đã bổ sung thêm nhiệm vụ, quyền hạn cho Tổng Thanh tra Chính phủ. Theo đó tại điểm e, g, h khoản 2 Điều 11 Luật Thanh tra năm 2025 quy định bổ sung về quyền của Tổng Thanh tra Chính phủ như là:
+ Đề nghị Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, chủ tịch UBND tỉnh cử người có chuyên môn, nghiệp vụ tham gia Đoàn Thanh tra của Thanh tra Chính phủ khi thấy cần thiết;
+ Đề nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ trưởng Bộ có Thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo việc thanh tra đối với vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
+ Quyết định thanh tra lại vụ việc đã có kết luận thanh tra của Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Thanh tra Cơ yếu, Thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế, Thanh tra tỉnh khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật;
+ Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên được phát hiện qua thanh tra; báo cáo Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có nội dung trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên được phát hiện qua thanh tra;
- Bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cho Chánh Thanh tra tỉnh.
Ngoài quyền hạn và nhiệm vụ của Tổng Thanh tra Chính phủ thì nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh Thanh tra tỉnh cũng được sửa đổi bổ sung cho phù hợp, tại khoản 1 Điều 16 sửa đổi, bổ sung về quyền Chánh Thanh tra tỉnh như sau:
+ Xây dựng dự thảo kế hoạch thanh tra, báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho ý kiến về chủ trương, ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra;
+ Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn, tổ chức hành chính khác và đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Ủy ban nhân dân cấp xã; đơn vị, cá nhân thuộc cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã;
+ Thanh tra việc chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
+ Thanh tra việc quản lý, sử dụng vốn và tài sản của nhà nước tại doanh nghiệp do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đại diện chủ sở hữu, trừ trường hợp Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra;
+ Thanh tra đối với vụ việc thuộc thẩm quyền khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật;
+ Thanh tra vụ việc khác khi được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giao;
+ Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị của Thanh tra tỉnh, quyết định xử lý về thanh tra của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chánh Thanh tra tỉnh;
+ Tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức Thanh tra tỉnh;
+ Tổng hợp, báo cáo kết quả công tác thanh tra.
- Quy định cụ thể chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước.
Theo quy định tại Luật Thanh tra năm 2025, vị trí chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của của Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước đã được quy định chi tiết, cụ thể tại Điều 12, Điều 13, Điều 14 Luật này. Trong khi theo Luật Thanh tra năm 2022 thì chỉ quy định chung chung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ.
Về vị trí chức năng: Theo Điều 12 Luật Thanh tra năm 2025 thì Thanh tra Bộ Công an, Thanh tra Bộ Quốc phòng, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước sẽ Giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hiện nhiệm vụ thanh tra đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ; thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo quy định của pháp luật. Chịu sự chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và chịu sự chỉ đạo về công tác thanh tra, hướng dẫn nghiệp vụ của Thanh tra Chính phủ.
Về nhiệm vụ, quyền hạn: Theo Điều 13 Luật Thanh tra năm 2025 thì trong lĩnh vực thanh tra, giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý nhà nước về công tác thanh tra và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
+ Tham mưu, xây dựng trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành và hướng dẫn, đôn đốc việc thực hiện quy định về tổ chức, hoạt động thanh tra thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
+ Xây dựng dự thảo kế hoạch thanh tra, trình Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ cho ý kiến về chủ trương, ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra;
+ Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
+ Thanh tra đối với vụ việc thuộc thẩm quyền khi phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật;
+ Thanh tra vụ việc khác khi được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ giao;
+ Thanh tra lại vụ việc đã có kết luận thanh tra của cơ quan thanh tra khác trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
+ Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị của mình và quyết định xử lý về thanh tra của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ;
+ Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của quyết định xử lý sau thanh tra của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với vụ việc thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ khi cần thiết;
+ Tổng hợp, báo cáo kết quả công tác thanh tra.
+ Giúp Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thực hiện quản lý nhà nước về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo quy định của pháp luật.
- Thời gian xây dựng, ban hành kế hoạch thanh tra có sự thay đổi
Căn cứ theo khoản 2 Điều 18 Luật Thanh tra năm 2025 thì các mốc thời gian xây dựng, ban hành kế hoạch thanh tra dựa trên Định hướng chương trình thanh tra đã lùi lại muộn hơn so với Luật Thanh tra 2022. Cụ thể:
Việc xây dựng, ban hành kế hoạch thanh tra phải căn cứ vào Định hướng chương trình thanh tra, hướng dẫn của Thanh tra Chính phủ, yêu cầu của nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và công tác quản lý thuộc phạm vi quản lý của ngành, lĩnh vực và địa phương.
Chậm nhất là ngày 15 tháng 11 hằng năm, Tổng Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm ban hành kế hoạch thanh tra của cơ quan mình và gửi cho các cơ quan thanh tra để xử lý chồng chéo, trùng lặp.
Chậm nhất là ngày 20 tháng 11 hằng năm, Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng, Chánh Thanh tra Bộ Công an, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Chánh Thanh tra Cơ yếu, Chánh Thanh tra được thành lập theo điều ước quốc tế, Chánh Thanh tra tỉnh trình Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp xem xét, cho ý kiến đối với kế hoạch thanh tra.
Chậm nhất là ngày 30 tháng 11 hằng năm, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp có trách nhiệm cho ý kiến bằng văn bản đối với kế hoạch thanh tra; Chánh Thanh tra ban hành kế hoạch thanh tra chậm nhất sau 05 ngày làm việc kể từ khi được Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp cho ý kiến.
- Bổ sung thêm thẩm quyền của Thủ tướng chính phủ trong việc xem xét thanh tra lại kết luận của Thanh tra Chính phủ.
Nhằm hạn chế, khắc phục những sai sót trong việc thanh tra, để việc thanh tra mang lại kết quả tốt nhất, đảm bảo sự minh bạch, khách quan trong hoạt động thanh tra, Thủ tướng Chính phủ đã được bổ sung thẩm quyền trong việc xem xét, quyết định thanh tra lại đối với kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ, được quy định chi tiết tại khoản 3 Điều 25 Luật Thanh tra năm 2025 như sau: “Khi có căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, cơ quan thanh tra cấp trên tiến hành thanh tra lại đối với kết luận thanh tra của cơ quan thanh tra cấp dưới; đối với kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ thì báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc thanh tra lại.”
- Bổ sung thêm trường hợp tạm dừng cuộc thanh tra
Theo quy định tại Luật Thanh tra năm 2025, đã có sự bổ sung căn cứ để tạm dừng cuộc Thanh tra, nhằm phù hợp với thực tiễn hiện nay, khi có nhiều trường hợp cần tập trung nhân lực, các nguồn lực khác để thực hiện các nhiệm vụ đột xuất, quan trọng về thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo chỉ đạo của Ban Chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng, Thủ trưởng cơ quan quản lý các cấp.
Cụ thể, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 30 Luật Thanh tra năm 2025 thì có thể tạm dừng thanh tra trong trường hợp “tình hình thực tế ảnh hưởng đến việc tiến hành thanh tra trực tiếp do phải tập trung thực hiện nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền” mà Luật Thanh tra năm 2022 không có.
