Nghị quyết số 25-NQ/TW: Đổi mới công tác tư tưởng, củng cố niềm tin của Nhân dân từ cơ sở
Với phương châm “Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả”, Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới đặt ra yêu cầu đổi mới toàn diện công tác tư tưởng; đề cao trách nhiệm của cấp ủy, người đứng đầu; lấy cơ sở, địa bàn dân cư làm trọng tâm và niềm tin của Nhân dân làm thước đo cao nhất.
Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới. Nghị quyết xác định công tác tư tưởng có vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, góp phần thống nhất nhận thức, hành động, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và tạo đồng thuận xã hội.
Qua 40 năm đổi mới, công tác tư tưởng đã đóng góp quan trọng vào việc phát triển lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo động lực tinh thần cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, một số cấp ủy, người đứng đầu chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm; phương thức hoạt động chậm đổi mới; việc học tập và làm theo Bác ở một số nơi còn hình thức. Công tác tư tưởng tại cơ sở chưa theo kịp yêu cầu sau sắp xếp tổ chức bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương hai cấp.
Trước những biến đổi của tình hình thế giới, sự phát triển nhanh của môi trường thông tin và yêu cầu triển khai các quyết sách chiến lược trong nước, Nghị quyết đề ra chiến lược tổng thể nhằm củng cố nền tảng chính trị, tinh thần, phát huy sức mạnh nội sinh phục vụ phát triển đất nước.

Bốn quan điểm chỉ đạo, đề cao trách nhiệm của toàn hệ thống chính trị
Trước hết, Nghị quyết yêu cầu kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh là nội dung cốt lõi, xuyên suốt.
Công tác tư tưởng phải đồng hành với toàn bộ quá trình lãnh đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ: chuẩn bị nhận thức trước khi triển khai; tuyên truyền, giải thích trong quá trình thực hiện; tổng kết thực tiễn để củng cố niềm tin. Trọng tâm chuyển sang dẫn dắt nhận thức xã hội, tạo đồng thuận và khơi dậy khát vọng phát triển. Cấp ủy, người đứng đầu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, chịu trách nhiệm, khắc phục việc giao toàn bộ công tác này cho cơ quan chuyên trách.
Nghị quyết yêu cầu kết hợp xây dựng với đấu tranh, trong đó xây dựng là nền tảng, đấu tranh là nhiệm vụ thường xuyên, thuyết phục là phương thức chủ đạo. Cùng với bồi đắp lòng yêu nước, bản lĩnh, niềm tin và môi trường thông tin lành mạnh, phải chủ động phòng ngừa, ngăn chặn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa ngay từ cơ sở.
Quan điểm xuyên suốt là lấy con người làm trung tâm, cán bộ giữ vai trò then chốt, Nhân dân tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Kết quả phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và an sinh xã hội trực tiếp góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng. Hoạt động này được tiến hành đồng bộ trong đời sống thực tế và trên môi trường số, ở trong nước và ngoài nước, với dữ liệu, dự báo và cảnh báo sớm làm năng lực nền tảng.

Năm nhóm mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và xa hơn
Về tổng thể, Nghị quyết hướng tới bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đưa tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh thấm sâu vào ứng xử và hành động; xây dựng hệ thống công tác tư tưởng thông suốt, đội ngũ cán bộ đủ năng lực và hạ tầng thông tin hiện đại. Qua đó, củng cố đoàn kết trong Đảng, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước.
Đến năm 2030, Nghị quyết xác định năm nhóm mục tiêu cụ thể:
Thứ nhất, thực hành thường xuyên tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh. Toàn bộ cấp ủy, tổ chức đảng đưa công tác tư tưởng vào chương trình công tác và kiểm điểm hằng năm. Chuyển biến phải thể hiện qua chất lượng thực hiện nhiệm vụ, trách nhiệm nêu gương, mức độ hài lòng và niềm tin của Nhân dân. Đồng thời, hoàn thiện học liệu, dữ liệu số phục vụ giáo dục lý luận chính trị; cụ thể hóa các hệ giá trị quốc gia, văn hóa, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong cơ quan, cộng đồng.
Thứ hai, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và bảo đảm an ninh tư tưởng. Nhận diện sớm, phản bác kịp thời bằng luận cứ khoa học đối với 100% quan điểm sai trái, thù địch có tác động lớn đến đời sống xã hội; ngăn chặn kịp thời 100% nội dung vi phạm nghiêm trọng theo pháp luật. Mức độ lan tỏa nội dung xấu độc trong nước giảm tối thiểu 70% so với năm 2026. Các biểu hiện suy thoái được cảnh báo, xử lý từ cơ sở; vi phạm kỷ luật phát ngôn được xử lý nghiêm; cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin vận hành thông suốt.
Thứ ba, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận thực chất. Các chủ trương, nghị quyết, chính sách được định hướng nhận thức kịp thời, có phương án tuyên truyền, giải thích, đối thoại từ khi xây dựng. Tâm tư, kiến nghị chính đáng của Nhân dân được tiếp nhận, phản hồi, giải quyết và công khai kết quả. Phấn đấu 100% kiến nghị, phản ánh được tiếp nhận, trả lời trong thời hạn quy định; không để vấn đề phát sinh kéo dài, tích tụ thành điểm nóng.
Thứ tư, tiến hành công tác tư tưởng đồng bộ trong đời sống và trên môi trường số. Toàn bộ cấp xã có lực lượng hoạt động thường xuyên tại địa bàn dân cư, kết nối hệ thống thông tin nguồn; người dân tiếp cận được thông tin chính thống hai chiều. Mỗi chính sách lớn có phương án truyền thông phù hợp từng nhóm đối tượng. Cả nước hình thành mạng lưới 15.000–20.000 người có uy tín, ảnh hưởng tích cực; phát triển truyền thông đối ngoại đa nền tảng, đa ngôn ngữ và phát huy đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài.
Thứ năm, bảo đảm cán bộ, dữ liệu, công nghệ và hạ tầng. Toàn bộ cấp xã có cán bộ chuyên trách; 100% cán bộ làm công tác tư tưởng, thành viên Ban Chỉ đạo, Ban Công tác 35 và người làm nhiệm vụ thông tin cơ sở được bồi dưỡng hằng năm. Toàn Đảng có 4.000–6.000 cán bộ tuyên giáo nòng cốt được đào tạo chuyên sâu. Hệ thống nghiệp vụ, dữ liệu, giải pháp kỹ thuật và nền tảng số dùng chung được hoàn thiện; dữ liệu lưu trữ trên hạ tầng trong nước, bảo đảm chủ quyền dữ liệu quốc gia.
Tầm nhìn đến năm 2045 và xa hơn, công tác tư tưởng trở thành năng lực nội sinh của Đảng và dân tộc; công tác lý luận đủ sức lý giải, dẫn dắt những vấn đề mới. Hệ giá trị Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc trở thành sức mạnh mềm quốc gia, góp phần giữ vững chủ quyền trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa trong môi trường thông tin toàn cầu.
Tám nhóm nhiệm vụ, giải pháp, với ba nhóm đột phá
Để thực hiện các mục tiêu, Nghị quyết đề ra tám nhóm nhiệm vụ, giải pháp có quan hệ chặt chẽ, trong đó ba nhóm được xác định mang tính đột phá.
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo công tác tư tưởng. Đây là nhóm đột phá, yêu cầu đưa trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và nêu gương vào đánh giá hằng năm. Công khai thông tin, chủ động đối thoại, tiếp thu phản biện xã hội; đánh giá tác động tư tưởng đối với từng chính sách lớn. Kết hợp nắm tình hình trực tiếp với điều tra xã hội học, phân tích dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để dự báo sớm; kết quả dự báo phải chuyển thành quyết định và hành động cụ thể.
Hai là, chuyển trọng tâm về cơ sở, từng địa bàn dân cư. Nhóm đột phá này quy định mỗi xã, phường, đặc khu phân công một ủy viên ban thường vụ cấp ủy trực tiếp phụ trách công tác tư tưởng. Nội dung này phải có trong sinh hoạt chi bộ, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; duy trì đối thoại giữa người đứng đầu với Nhân dân. Vấn đề phát sinh được xử lý theo trình tự nắm tình hình, đối thoại, giải thích, giải quyết theo thẩm quyền và thông báo kết quả. Thông tin về cùng một vụ việc phải thống nhất đầu mối phát ngôn và thông điệp.
Ba là, đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh; đổi mới giáo dục và nghiên cứu lý luận. Lấy kết quả thực hành, đạo đức công vụ và hiệu quả thực hiện chức trách làm căn cứ đánh giá. Hằng năm, cấp ủy rà soát, công khai, giải quyết dứt điểm danh mục việc khó, tồn đọng, gây bức xúc. Giáo dục lý luận gắn với thực tiễn, phù hợp đối tượng; phát triển học liệu số, nền tảng học tập và cơ sở dữ liệu luận cứ khoa học dùng chung.
Bốn là, nâng cao chất lượng quán triệt nghị quyết và truyền thông chính sách. Bí thư cấp ủy trực tiếp quán triệt; tăng trao đổi, giải thích, thuyết phục. Tài liệu phải ngắn gọn, rõ điểm mới và việc cần làm ngay; kế hoạch hành động xác định đủ trách nhiệm, thời hạn, sản phẩm. Truyền thông bắt đầu từ quá trình xây dựng chính sách, do cơ quan soạn thảo chịu trách nhiệm chính; có sản phẩm phù hợp từng nhóm, nhất là thế hệ trẻ. Kiện toàn người phát ngôn, phát huy báo chí chủ lực và đặt hàng sản phẩm theo nhu cầu thực tế của cơ sở.
Năm là, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm an ninh tư tưởng. Kiện toàn lực lượng Trung ương, tỉnh, cơ sở trên nền Ban Chỉ đạo, Ban Công tác 35; nhận diện, xác minh và xử lý nội dung vi phạm theo quy định. Thực hiện nghiêm kỷ luật phát ngôn, sử dụng mạng xã hội; xử lý sản phẩm văn hóa xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, chống phá chế độ. Xây dựng quy chế và cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin nhanh, thống nhất, rõ đầu mối chỉ huy.
Sáu là, xây dựng hệ sinh thái thông tin tích cực, nhân văn, phát huy vai trò của Nhân dân. Lan tỏa các giá trị tốt đẹp, hỗ trợ tác phẩm văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm có chất lượng; phát triển mạng lưới người có uy tín và lực lượng chính luận nòng cốt. Cán bộ, đảng viên thực hành văn hóa ứng xử thống nhất trong công việc, xã hội và môi trường số. Nâng cao kỹ năng kiểm chứng thông tin; vận dụng các hệ giá trị vào quy tắc ứng xử, hương ước, quy ước cộng đồng.
Bảy là, nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng đối ngoại và thông tin đối ngoại. Thống nhất thông điệp đối nội, đối ngoại; phát triển truyền thông đa ngôn ngữ, đa nền tảng, phát huy cơ quan đại diện, báo chí, học giả và bạn bè quốc tế. Cung cấp thông tin kịp thời cho người Việt Nam ở nước ngoài; xây dựng mạng lưới nòng cốt, hỗ trợ truyền thông tiếng Việt, gìn giữ ngôn ngữ và bản sắc dân tộc. Chủ động phản hồi có căn cứ trước thông tin, đánh giá sai lệch về Việt Nam.
Tám là, bảo đảm cán bộ, thể chế, nguồn lực, dữ liệu, công nghệ và kiểm tra, đánh giá. Đây là nhóm đột phá về điều kiện thực hiện. Nghị quyết yêu cầu xây dựng tiêu chuẩn, khung năng lực cán bộ; bố trí đủ cán bộ chuyên trách cấp xã, có chính sách thu hút và bảo vệ lực lượng trực tiếp đấu tranh. Nguồn lực ưu tiên cơ sở, địa bàn khó khăn; hiện đại hóa truyền thanh, bảng tin, thư viện và hạ tầng số. Hiệu quả được đo bằng kết quả thực chất, mức độ người dân tiếp cận, hiểu, ghi nhớ thông tin và phản hồi xã hội; làm căn cứ phân bổ nguồn lực, xem xét trách nhiệm người đứng đầu.
Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, thống nhất, toàn diện việc thực hiện Nghị quyết. Mỗi nhiệm vụ giao một cơ quan chủ trì, bảo đảm xác định rõ người thực hiện, công việc, thời gian, trách nhiệm, sản phẩm và thẩm quyền.
Đảng ủy Quốc hội chỉ đạo hoàn thiện pháp luật, giám sát chính sách và nguồn lực. Đảng ủy Chính phủ cụ thể hóa kế hoạch, lộ trình, bố trí kinh phí và chỉ đạo hiện đại hóa thiết chế thông tin cơ sở. Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh tư tưởng, an ninh mạng, dữ liệu và các giải pháp kỹ thuật theo lĩnh vực.
Ban Tổ chức Trung ương tham mưu về cán bộ, tiêu chí đánh giá; Ủy ban Kiểm tra Trung ương tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Hội đồng Lý luận Trung ương cung cấp luận cứ khoa học. Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương phát huy vai trò của Nhân dân, giám sát và phản biện xã hội. Các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản đổi mới quản trị, bảo đảm định hướng chính trị và chất lượng nội dung.
Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch phù hợp, bảo đảm nguồn lực, nắm chắc tình hình từ cơ sở. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì tham mưu, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra; tổ chức sơ kết năm 2028 và tổng kết trước đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XV của Đảng. Nghị quyết được phổ biến đến chi bộ. Cùng ngày 22/8/2026, Ban Bí thư ban hành Kế hoạch số 08-KH/TW để tổ chức thực hiện.
Đối với cán bộ, đảng viên tại địa phương, những yêu cầu của Nghị quyết cần được cụ thể hóa trong công việc hằng ngày: học tập nghiêm túc, nói đi đôi với làm, giữ kỷ luật phát ngôn, sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm; chủ động lắng nghe, giải thích chính sách và giải quyết kiến nghị của người dân. Với các chi bộ, cơ quan, đơn vị trên địa bàn phường Hà Huy Tập, việc vận dụng Nghị quyết cần gắn với chất lượng sinh hoạt, trách nhiệm nêu gương và hiệu quả phục vụ Nhân dân, để mỗi chuyển biến trong công tác tư tưởng được thể hiện bằng hành động và kết quả cụ thể.
Thông tin chỉ đạo, điều hành
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.