Quan Phó Bảng Trần Mậu, tên thật là Trần Hữu Đạt, đời thứ 5, thuộc dòng họ Trần Văn (gốc Trần Hữu). Ông là con thứ hai của cụ Trần Hữu Mận và bà Nguyễn Thị Hinh, sinh ra tại xã Văn Thư (nay là xã Thạch Tân), tổng Thượng Nhị, huyện Thạch Hà, phủ Hà Thanh, tỉnh Hà Tĩnh.
Ông kết hôn với bà Trần Thị Nghĩa và có ba người con trai:
- Con trưởng: Trần Văn Ý (Viên)
- Con thứ hai: Trần Văn Cung
- Con thứ ba: Trần Văn Từ
Năm sinh của ông chưa được ghi chép rõ ràng. Ông qua đời ngày 06 tháng 4 năm 1859 (âm lịch, năm Tự Đức thứ 12) vì bệnh nặng. Ban đầu ông được an táng tại đồng Cồn Lăng (sau gọi là đồng Cồn Bóng), sau này mộ phần được di dời về nghĩa trang họ tại Rậm Sim.
Sự nghiệp khoa bảng và quan trường
Dưới triều Nguyễn, Trần Mậu là một trong những tấm gương khoa bảng xuất sắc của vùng đất Hà Tĩnh.
- Năm Bính Ngọ 1846 (Thiệu Trị thứ 6): Thi đỗ Cử nhân (举人) tại kỳ thi Hương.
- Năm Đinh Mùi 1847: Thi Hội đỗ Phó bảng (副榜) – một trong bốn vị Phó bảng được vua Thiệu Trị sắc phong năm đó (học vị Phó bảng được đặt từ năm Minh Mạng thứ 10 - 1829, xếp sau Tiến sĩ, tên ghi vào bảng đỏ).
Ngày 16 tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), vua ban sắc phong bổ nhiệm ông làm Kiểm thảo (檢討) thuộc Hàn Lâm Viện (翰林院) với hàm Tòng thất phẩm (從七品). Sắc phong ghi rõ: “Sắc cho Trần Mậu Phó bảng khoa thi Hội năm Đinh Mùi có quê ở xã Văn Thư, tổng Thượng Nhị, huyện Thạch Hà, phủ Hà Thanh, tỉnh Hà Tĩnh, học thuật tinh thông, đậu được Phó bảng. Nay chuẩn bổ ngươi làm kiểm thảo thuộc Hàn Lâm viện, cai quản thuộc viên tuân hành công vụ. Kính thay!”
Đầu năm Tự Đức thứ nhất (1848), ông vinh dự được chọn tham gia soạn tập sách “Sắc Soạn Vĩnh Phú” (hay Vịnh sử phủ) – một vinh dự lớn mà không phải quan nào cũng có được. Sau đó ông được bổ nhiệm làm Tri huyện Quảng Điền (知縣廣田) – chức vụ đứng đầu một huyện, cai quản dân sự và quân sự, tương đương Chủ tịch UBND huyện ngày nay.
Năm 1856 (Tự Đức thứ 10), ông được thăng bổ hàm Lục phẩm văn giai (六品文階) làm Chủ sự Ty Trừng tự (主事懲司) thuộc Bộ Hình. Sắc chỉ ghi: ông nguyên là Tri huyện Quảng Điền, được điều bổ làm Lục phẩm Ty Trừng tự thuộc Bộ Hình. Ty Trừng tự là cơ quan chuyên trách tư pháp, hình sự cấp trung ương (tương đương Bộ Tư pháp và Tòa án Tối cao ngày nay).
Đến năm 1859, do bệnh nặng vắng mặt công vụ, Bộ Lại thừa lệnh vua Tự Đức ban chỉ truy cấp thực thụ cho thân nhân, ghi nhận công lao của ông.
Qua các sắc phong, chỉ lệnh và tư liệu triều Nguyễn, Quan Phó Bảng Trần Mậu được đánh giá là người học thuật tinh thông, đạo đức phẩm hạnh cao đẹp, được nhân dân và danh sĩ kính trọng. Sách Đại Nam liệt truyện chép: “Ở Thạch Hà có Trần Mậu, Bùi Thố, ở Hương Sơn có Đinh Nho Điểm cũng trước sau lấy khoa cử đỗ đạt, đức lưu, phẩm trật, được tiếng khen cả”.
Lịch sử Đền thờ và giá trị di tích
Hai năm sau khi ông mất (năm 1861), con cháu, dòng họ và nhân dân địa phương lập đền thờ để tưởng nhớ danh nhân có công lao với dân với nước. Ngôi đền ban đầu là một miếu nhỏ xây bằng vôi hàu, gạch và mật mía, đặt tại vườn ông Nhượng (cháu nội) – nay là vườn ông Quế (chắt nội) ở Tổ dân phố Thắng Hòa (cách nhà thờ Nhánh Ất 75m về phía Tây Nam, cách nhà thờ Đại tộc 330m về phía Tây).
Dù trải qua thiên tai và hai cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, đền thờ vẫn được gia đình, dòng họ gìn giữ cẩn thận, hương khói liên tục. Năm 2015, con cháu xây dựng lại với quy mô lớn hơn: kiến trúc hai nhà ba gian bốn mái (đền thờ và bái đường), tương đương nhà thờ Đại tộc.
Ngày 03/02/2016, UBND tỉnh Hà Tĩnh xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh. Lễ đón nhận bằng được tổ chức trọng thể ngày 12/5/2016 tại xã Thạch Tân. Hiện đền lưu giữ bản gốc sắc phong, chỉ lệnh và nhiều văn bản triều Nguyễn viết bằng chữ Hán Nôm – những tài liệu quý giá.
Năm 2017, theo Nghị quyết số 59/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Hà Tĩnh, tên đường Trần Mậu được đặt cho tuyến đường từ Cầu Cày – Quán Gạc đến đường dự án SRDP tại thị trấn Thạch Hà, nay là xã Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, thể hiện sự tri ân sâu sắc của địa phương.
Đền thờ Quan Phó Bảng Trần Mậu hôm nay không chỉ là nơi thờ tự mà còn là địa chỉ giáo dục truyền thống hiếu học, trung hiếu và lòng yêu nước cho các thế hệ trẻ. Đây là minh chứng sống động cho giá trị văn hóa, lịch sử của vùng đất Hà Tĩnh anh hùng.
