Trách nhiệm khi đăng tải, chia sẻ thông tin trên không gian mạng
Nghị định số 327/2026/NĐ-CP của Chính phủ đã quy định cụ thể trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc soạn thảo, đăng tải, lưu trữ, truyền đưa, chia sẻ và phát tán thông tin trên không gian mạng. Mỗi tổ chức, cá nhân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung do mình tạo lập, đăng tải và có nghĩa vụ phối hợp xử lý thông tin vi phạm theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Trong bối cảnh mạng xã hội và các nền tảng số ngày càng trở thành một phần quan trọng của đời sống, việc đăng tải, chia sẻ thông tin diễn ra nhanh chóng và có khả năng lan truyền trên phạm vi rộng. Cùng với những tiện ích mang lại, môi trường mạng cũng đặt ra yêu cầu ngày càng cao về ý thức, trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân khi tham gia.
Điều 10 Nghị định số 327/2026/NĐ-CP quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân soạn thảo, đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng. Theo đó, tổ chức, cá nhân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin do mình tạo lập, đăng tải, lưu trữ, truyền đưa, chia sẻ, phát tán trên không gian mạng. Đồng thời, không được lợi dụng không gian mạng để tạo lập, đăng tải, chia sẻ, phát tán thông tin xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Không sử dụng AI, công nghệ để giả mạo, xuyên tạc, lừa đảo
Một nội dung đáng chú ý tại Điều 10 là quy định trách nhiệm trong việc sử dụng công nghệ thông tin, phương tiện điện tử và trí tuệ nhân tạo. Cụ thể, tổ chức, cá nhân không được sử dụng công nghệ thông tin, phương tiện điện tử, trí tuệ nhân tạo, phần mềm, công cụ kỹ thuật để giả mạo, xuyên tạc, lừa đảo, kích động, dụ dỗ, xúi giục, hướng dẫn hoặc tiếp tay cho hành vi vi phạm pháp luật.
Quy định này đặt ra yêu cầu đối với người sử dụng công nghệ, trong đó có các công cụ trí tuệ nhân tạo, phải tuân thủ pháp luật và chịu trách nhiệm đối với nội dung, hành vi của mình trên không gian mạng.
Phát hiện vi phạm cần chủ động thông báo, tố giác
Nghị định cũng quy định tổ chức, cá nhân có trách nhiệm chủ động thông báo, tố giác đến lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng hoặc cơ quan có thẩm quyền, nhà cung cấp dịch vụ, chủ quản hệ thống thông tin khi phát hiện thông tin hoặc hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.
Khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền, tổ chức, cá nhân phải thực hiện việc gỡ bỏ, cải chính, chấm dứt phát tán, cung cấp thông tin, dữ liệu liên quan. Đối với thông tin vi phạm thuộc phạm vi quản lý, việc gỡ bỏ không chỉ bao gồm xóa nội dung vi phạm mà còn phải loại bỏ bản sao, đường dẫn và nội dung chia sẻ lại có liên quan.
Chậm nhất 24 giờ phải thực hiện nghĩa vụ gỡ bỏ thông tin vi phạm
Điều 10 quy định cụ thể thời hạn thực hiện nghĩa vụ gỡ bỏ thông tin vi phạm. Theo đó, chậm nhất là 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu; đối với tình huống khẩn cấp, thời hạn thực hiện chậm nhất là 06 giờ. Tổ chức, cá nhân đồng thời có trách nhiệm thông báo kết quả thực hiện theo yêu cầu.
Bên cạnh việc gỡ bỏ, tổ chức, cá nhân còn phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật cần thiết nhằm ngăn chặn việc tiếp tục lan truyền thông tin vi phạm trong phạm vi do mình quản lý. Các biện pháp có thể bao gồm vô hiệu hóa chức năng chia sẻ, sao chép, phát tán; ngăn chặn việc đăng tải lại; loại bỏ liên kết, dữ liệu dẫn tới nội dung vi phạm theo yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền.
Đối với yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu điện tử liên quan đến nội dung vi phạm, dữ liệu phải bảo đảm chính xác, đầy đủ, đúng định dạng và được cung cấp chậm nhất trong 24 giờ; trường hợp tình huống khẩn cấp, chậm nhất là 03 giờ.
Người quản lý hội, nhóm, kênh, trang, tài khoản trên mạng cũng có trách nhiệm kiểm duyệt nội dung
Nghị định quy định không được lập, điều hành, duy trì hội, nhóm, kênh, trang, tài khoản trên không gian mạng nhằm mục đích thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc tiếp tay cho hành vi vi phạm pháp luật.
Đáng chú ý, tổ chức, cá nhân quản lý các hội, nhóm, kênh, trang, tài khoản trên không gian mạng phải ban hành và công khai quy tắc cộng đồng, nội quy quản lý; tổ chức kiểm duyệt nội dung phù hợp với quy mô hoạt động; đồng thời chủ động loại bỏ thành viên, nội dung, liên kết, công cụ, bài viết, tài khoản có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Trường hợp phát hiện tài khoản gắn với thông tin đăng ký của tổ chức, cá nhân bị sử dụng trái phép mà không do mình ủy quyền hoặc đang được sử dụng vào mục đích vi phạm pháp luật, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khóa, loại bỏ tài khoản hoặc yêu cầu nhà cung cấp dịch vụ khóa, loại bỏ tài khoản.
Những quy định tại Điều 10 Nghị định số 327/2026/NĐ-CP tiếp tục đặt ra yêu cầu về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi tham gia môi trường số. Không chỉ người trực tiếp tạo ra thông tin, mà việc đăng tải, lưu trữ, truyền đưa, chia sẻ, phát tán và quản lý nội dung trên không gian mạng đều gắn với những trách nhiệm cụ thể theo quy định. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật khi sử dụng mạng xã hội và các nền tảng trực tuyến; thận trọng kiểm chứng thông tin trước khi đăng tải, chia sẻ; không tham gia phát tán nội dung vi phạm pháp luật; chủ động thông báo, tố giác khi phát hiện hành vi vi phạm và nghiêm túc thực hiện yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.
Xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh, văn minh không chỉ là trách nhiệm của cơ quan chức năng mà cần bắt đầu từ ý thức, trách nhiệm của mỗi tổ chức, cá nhân trong từng bài viết, bình luận và nội dung được đăng tải, chia sẻ trên môi trường số.
"Điều 10. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân soạn thảo, đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng.
1. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin do mình tạo lập, đăng tải, lưu trữ, truyền đưa, chia sẻ, phát tán trên không gian mạng.
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.