Gây lãng phí có thể bị kỷ luật, buộc thôi việc và phải bồi thường thiệt hại
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 267/2026/NĐ-CP quy định chi tiết việc áp dụng hình thức kỷ luật và bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng phí và hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, cụ thể hóa trách nhiệm của người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức và cá nhân có hành vi gây lãng phí, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong quản lý, sử dụng các nguồn lực của Nhà nước.
Ai thuộc đối tượng áp dụng?
Nghị định số 267/2026/NĐ-CP quy định chi tiết việc áp dụng hình thức kỷ luật, loại trừ kỷ luật, miễn kỷ luật, giảm nhẹ mức kỷ luật và bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây lãng phí, hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí. Đối tượng áp dụng gồm cá nhân có hành vi gây lãng phí, hành vi vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí; người có thẩm quyền, trách nhiệm xử lý kỷ luật, bồi thường thiệt hại và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Đối tượng bị xử lý kỷ luật gồm người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra hành vi gây lãng phí trong phạm vi được giao quản lý, phụ trách; cán bộ, công chức, viên chức có hành vi gây lãng phí hoặc vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí.
Người trực tiếp thực hiện hành vi gây lãng phí và gây thiệt hại thuộc đối tượng phải chịu trách nhiệm bồi thường.
Người đứng đầu để xảy ra lãng phí có thể bị cách chức
Nghị định quy định cụ thể trách nhiệm của người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu khi thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý để xảy ra hành vi gây lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp hoặc lĩnh vực thuộc thẩm quyền trực tiếp quản lý, phụ trách.

Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi gây lãng phí xảy ra trong phạm vi quản lý, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu có thể bị áp dụng các hình thức khiển trách, cảnh cáo hoặc cách chức.
Cụ thể, khiển trách được áp dụng trong trường hợp để xảy ra hành vi gây lãng phí bị xử lý hình sự bằng hình thức phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm; cảnh cáo nếu hành vi gây lãng phí bị xử lý bằng hình thức phạt tù trên 03 năm đến 07 năm; cách chức nếu hành vi gây lãng phí bị xử lý bằng hình thức phạt tù trên 07 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Cán bộ, công chức, viên chức gây lãng phí: mức thiệt hại là căn cứ quan trọng để xử lý
Đối với cán bộ, công chức, viên chức trực tiếp có hành vi gây lãng phí, Nghị định quy định các hình thức kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo, cách chức đến buộc thôi việc, tùy tính chất, mức độ, hậu quả, tình tiết của hành vi và việc tái phạm.
Theo đó, trường hợp vi phạm lần đầu gây thiệt hại từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng thuộc trường hợp áp dụng hình thức khiển trách.
Trường hợp vi phạm lần đầu gây thiệt hại từ 50 triệu đồng đến 75 triệu đồng thuộc trường hợp áp dụng hình thức cảnh cáo; nếu thuộc trường hợp được giảm nhẹ mức kỷ luật theo quy định thì có thể áp dụng hình thức khiển trách.
Đối với cán bộ, công chức, viên chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, hành vi gây lãng phí lần đầu gây thiệt hại trên 75 triệu đồng, nhưng chưa đến mức buộc thôi việc, bãi nhiệm, nếu người vi phạm có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả và có tình tiết giảm nhẹ theo quy định thì thuộc trường hợp áp dụng hình thức cách chức.
Công chức, viên chức có thể bị buộc thôi việc nếu đã bị xử lý bằng hình thức cách chức đối với người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc cảnh cáo đối với người không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý mà tái phạm; hoặc có hành vi gây lãng phí lần đầu gây thiệt hại trên 75 triệu đồng nhưng không có thái độ tiếp thu, sửa chữa, chủ động khắc phục hậu quả và thuộc trường hợp tăng nặng mức kỷ luật theo quy định.
Nghị định cũng quy định trường hợp không ban hành hoặc chậm ban hành, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật về định mức, tiêu chuẩn, chế độ trong lĩnh vực tiết kiệm, chống lãng phí mà gây lãng phí thì bị xem xét xử lý kỷ luật.
Cản trở kiểm tra, xác minh, xử lý về chống lãng phí cũng bị kỷ luật
Không chỉ xử lý hành vi trực tiếp gây lãng phí, Nghị định còn quy định trách nhiệm đối với hành vi vi phạm trong quá trình tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí. Cán bộ, công chức, viên chức vi phạm lần đầu có hành vi cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong thanh tra, kiểm tra, kiểm toán về tiết kiệm, chống lãng phí; cản trở hoặc thiếu trách nhiệm trong xác minh, xử lý, giải quyết, tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo về tiết kiệm, chống lãng phí thuộc trường hợp áp dụng hình thức khiển trách.
Trường hợp đã bị khiển trách mà tái phạm hoặc có vi phạm trong việc bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí và người thân của người đấu tranh chống lãng phí theo quy định của pháp luật thì thuộc trường hợp áp dụng hình thức cảnh cáo.
Gây thiệt hại phải bồi thường
Một nội dung quan trọng của Nghị định số 267/2026/NĐ-CP là quy định cụ thể về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi gây lãng phí. Thiệt hại làm căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường phải là thiệt hại thực tế, có thể lượng hóa bằng tiền, có mối quan hệ nhân quả trực tiếp với hành vi gây lãng phí. Việc xác định phải dựa trên chứng từ, hóa đơn, tài liệu, số liệu kế toán, bằng chứng hợp pháp, hợp lệ và được thể hiện trong kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
Việc xem xét trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào lỗi, tính chất và mức độ của hành vi; thiệt hại thực tế; mức độ khắc phục hậu quả và khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường của người có nghĩa vụ, bảo đảm khách quan, công bằng, công khai. Nếu có nhiều người cùng gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường được xác định tương ứng với mức độ lỗi, trách nhiệm và vi phạm của từng người. Trường hợp không có căn cứ xác định mức độ trách nhiệm, vi phạm của từng người thì trách nhiệm bồi thường được chia đều.
Nghị định đồng thời quy định phương pháp xác định thiệt hại đối với nhiều loại hậu quả khác nhau, trong đó có dự án bị kéo dài thời gian, tiến độ; tài sản công bị mất, hủy hoại, hư hỏng; phát sinh nghĩa vụ tài chính của Nhà nước; thất thoát, mất vốn nhà nước tại doanh nghiệp và các trường hợp khác theo quy định.
Về thực hiện nghĩa vụ bồi thường, nguyên tắc chung là người có nghĩa vụ phải bồi thường một lần trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định về bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp đủ điều kiện được nộp nhiều lần. Việc nộp tiền bồi thường nhiều lần được xem xét khi số tiền phải bồi thường từ 15 triệu đồng trở lên, người có nghĩa vụ đang gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế và có đơn đề nghị.
Thời hạn nộp nhiều lần không quá 12 tháng kể từ ngày quyết định bồi thường có hiệu lực. Đối với người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, đang điều trị bệnh hiểm nghèo, gia đình gặp khó khăn đặc biệt về kinh tế hoặc trường hợp đặc biệt khác, thời hạn này có thể được xem xét kéo dài nhưng không quá 24 tháng.
Nếu hết thời hạn của từng lần nộp mà người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ thì phải trừ 20% tiền lương thực trả hằng tháng sau khi đã trích nộp các khoản bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và thuế thu nhập cá nhân theo quy định cho đến khi bồi thường đủ.
Người chưa hoàn thành nghĩa vụ bồi thường mà chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu thì cơ quan, tổ chức nơi ra quyết định bồi thường có trách nhiệm yêu cầu người đó bồi thường phần còn thiếu trước khi chuyển công tác, thôi việc hoặc nghỉ hưu.
Nghị định xác định rõ, trong trường hợp người vi phạm được loại trừ hoặc miễn trách nhiệm kỷ luật nhưng vẫn phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật, người có thẩm quyền vẫn xem xét, quyết định trách nhiệm bồi thường trên cơ sở hồ sơ, tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế, lỗi của người vi phạm và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi với thiệt hại.
Người bị xem xét trách nhiệm bồi thường có quyền giải trình, cung cấp tài liệu, chứng cứ liên quan và đề nghị xem xét khả năng thực hiện nghĩa vụ bồi thường trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định.
Nghị định số 267/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Việc quy định cụ thể trách nhiệm kỷ luật gắn với trách nhiệm bồi thường thiệt hại tạo cơ sở pháp lý quan trọng để xử lý hành vi gây lãng phí và vi phạm trong tổ chức thực hiện phòng, chống lãng phí.
Các quy định mới đồng thời đặt ra yêu cầu đối với người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản, vốn và các nguồn lực của Nhà nước; chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn hành vi gây lãng phí, góp phần xây dựng nền hành chính kỷ luật, kỷ cương, tiết kiệm, hiệu lực và hiệu quả./.
Thông tin chỉ đạo, điều hành
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.