Nghị định 337/2026/NĐ-CP: Những điều người dân, doanh nghiệp cần biết khi yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin
Từ ngày 01/9/2026, Nghị định số 337/2026/NĐ-CP ngày 26/8/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tiếp cận thông tin chính thức có hiệu lực. Nghị định quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, thời hạn cung cấp thông tin; trách nhiệm của cơ quan nhà nước; phương thức tiếp nhận, trả kết quả và nhiều biện pháp tạo thuận lợi để người dân, doanh nghiệp thực hiện quyền tiếp cận thông tin.
Đối với người dân và doanh nghiệp, điểm đáng quan tâm của Nghị định là nhiều nội dung trước đây có thể khó hình dung khi thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin nay được quy định cụ thể hơn: yêu cầu bằng mẫu nào, hồ sơ gồm những gì, cơ quan phải giải quyết trong bao lâu, trường hợp nào được gia hạn, có thể nhận thông tin qua Internet hay không và chi phí được thực hiện như thế nào.
Người dân có quyền yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định
Nghị định số 337/2026/NĐ-CP quy định các biện pháp nhằm bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; việc lập, cập nhật Danh mục thông tin phải được công khai; trình tự, thủ tục cung cấp thông tin theo yêu cầu; cung cấp thông tin cho công dân thông qua tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp và nhiều nội dung liên quan khác. Điều này có nghĩa, bên cạnh việc chủ động tìm kiếm những thông tin đã được cơ quan nhà nước công khai, khi thuộc trường hợp được yêu cầu cung cấp thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin, công dân có thể thực hiện yêu cầu và cơ quan có trách nhiệm phải tiếp nhận, xử lý theo đúng trình tự.
Nghị định yêu cầu cơ quan cung cấp thông tin phải thực hiện việc cung cấp kịp thời, chính xác, đầy đủ, minh bạch, thuận lợi; tăng cường kết nối, chia sẻ thông tin giữa các hệ thống dữ liệu; đồng thời khuyến khích cung cấp những thông tin mà người dân thường xuyên có nhu cầu tiếp cận.
Muốn yêu cầu cung cấp thông tin, cần chuẩn bị những gì?
Theo Điều 10 Nghị định, người yêu cầu cung cấp thông tin có thể gửi hồ sơ đến cơ quan, đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin theo một trong các hình thức quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật Tiếp cận thông tin. Hồ sơ yêu cầu cung cấp thông tin gồm Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin theo Mẫu số 01a hoặc Mẫu số 01b ban hành kèm theo Nghị định. Trong đó, Mẫu số 01a dành cho cá nhân có yêu cầu cung cấp thông tin; Mẫu số 01b áp dụng trong trường hợp công dân yêu cầu cung cấp thông tin thông qua tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp.
Đối với cá nhân, Phiếu yêu cầu thể hiện những thông tin cơ bản như: họ tên; giấy tờ hoặc tài khoản định danh; địa chỉ; số điện thoại, email; tên văn bản, hồ sơ, tài liệu cần cung cấp; lý do, mục đích yêu cầu; số lượng bản in, bản sao; phương thức nhận thông tin và các nội dung liên quan.
Một điểm thuận lợi là trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ nội dung theo mẫu, cơ quan, đơn vị tiếp nhận phải có trách nhiệm hướng dẫn người yêu cầu cung cấp thông tin bổ sung.
Có thể sử dụng dữ liệu dân cư để xác minh thông tin
Nghị định quy định cơ quan, đơn vị tiếp nhận hồ sơ được thực hiện khai thác, đối chiếu thông tin của người yêu cầu cung cấp thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành có liên quan theo quy định của pháp luật. Quy định này tạo cơ sở cho việc ứng dụng dữ liệu số trong quá trình tiếp nhận, xác minh yêu cầu, phù hợp với quá trình chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan nhà nước.
Thời gian giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin
- Thông tin đơn giản, có sẵn: giải quyết chậm nhất trong 03 ngày làm việc. Theo Điều 10 Nghị định số 337/2026/NĐ-CP, đối với thông tin đơn giản, có sẵn, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin chậm nhất trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ hợp lệ. Nếu người yêu cầu đề nghị được cung cấp thông tin trực tiếp tại trụ sở, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tạo điều kiện để người yêu cầu: đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu hoặc cung cấp ngay trong ngày theo yêu cầu, phù hợp với điều kiện của cơ quan, đơn vị. Như vậy, đối với những thông tin đơn giản và đã có sẵn, Nghị định đặt ra thời hạn tương đối rõ ràng, giúp người dân chủ động theo dõi tiến độ giải quyết.
- Thông tin phức tạp: thời hạn tối đa 12 ngày. Đối với thông tin phức tạp, không có sẵn mà cần tập hợp từ các bộ phận của cơ quan, đơn vị, cơ quan có thể thực hiện việc cung cấp thông tin theo yêu cầu tối đa không quá 12 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ. Trường hợp cần thêm thời gian để xem xét, tìm kiếm, phân tích, tập hợp, sao chép hoặc xử lý thông tin được yêu cầu, cơ quan có thể gia hạn thời gian cung cấp thông tin nhưng tối đa không quá 12 ngày. Cơ quan cung cấp thông tin phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu trước khi hết thời hạn cung cấp thông tin.
Người dân có nhiều lựa chọn để nhận thông tin
Nghị định và các mẫu ban hành kèm theo cho phép người yêu cầu lựa chọn phương thức nhận văn bản, hồ sơ, tài liệu phù hợp với điều kiện của mình. Theo Mẫu số 01a, người dân có thể đăng ký nhận thông tin tại nơi yêu cầu cung cấp thông tin; qua dịch vụ bưu chính; hoặc qua mạng Internet.
Đối với hình thức trực tuyến, mẫu phiếu liệt kê các kênh như:
Qua thư điện tử;
Cổng thông tin điện tử;
Trang thông tin điện tử;
Cổng dữ liệu;
Cổng Dịch vụ công quốc gia;
Ứng dụng di động hoặc các nền tảng số khác.
Người dân cũng có thể lựa chọn hình thức khác và ghi rõ trong phiếu yêu cầu.
Nhiều người cần cùng một thông tin có thể yêu cầu thông qua tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp
Nghị định còn giải quyết một tình huống khá thực tế: nhiều người trong cùng một tổ chức, đoàn thể hoặc doanh nghiệp đều muốn tiếp cận cùng một thông tin. Trong trường hợp này, tổ chức, đoàn thể, doanh nghiệp có thể đại diện cho các thành viên có cùng yêu cầu để thực hiện việc yêu cầu cung cấp thông tin. Người đại diện có trách nhiệm lập danh sách các cá nhân có yêu cầu, gửi Phiếu yêu cầu cung cấp thông tin theo Mẫu số 01b kèm danh sách thành viên có cùng yêu cầu và thực hiện việc yêu cầu cung cấp thông tin theo quy định. Quy định này giúp hạn chế tình trạng nhiều cá nhân cùng gửi các yêu cầu giống nhau đến một cơ quan.
Cơ quan nhà nước phải công khai danh mục thông tin để người dân dễ tìm kiếm
Theo Điều 7, đơn vị chủ trì tạo ra thông tin có trách nhiệm rà soát, xác định thông tin thuộc Danh mục thông tin phải được công khai và chuyển đến đơn vị đầu mối cung cấp thông tin để thực hiện công khai theo quy định. Danh mục phải có các nội dung cơ bản như tên, số, ký hiệu văn bản hoặc hồ sơ, tài liệu; ngày, tháng, năm tạo ra; hình thức công khai. Danh mục này phải được đăng tải trên Chuyên mục về tiếp cận thông tin thuộc cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị.
Cơ quan phải công khai đầu mối tiếp nhận yêu cầu
Cơ quan, đơn vị phải xây dựng Chuyên mục về tiếp cận thông tin trên cổng hoặc trang thông tin điện tử của mình. Trong chuyên mục phải công khai những nội dung cần thiết để người dân biết nơi liên hệ, trong đó có thông tin về đầu mối cung cấp thông tin; họ tên, chức vụ người làm đầu mối; địa chỉ tiếp nhận yêu cầu qua mạng Internet và tiếp nhận phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo có liên quan đến việc cung cấp thông tin; các mẫu văn bản sử dụng trong cung cấp thông tin; danh mục thông tin phải được công khai... Qua đó, người dân có cơ sở xác định đúng nơi cần gửi yêu cầu, hạn chế việc gửi sai cơ quan hoặc không biết liên hệ với đơn vị nào.
Khi từ chối hoặc gia hạn phải thông báo cho người yêu cầu
Nghị định ban hành đồng bộ các mẫu văn bản phục vụ quá trình tiếp nhận và giải quyết yêu cầu, gồm:
Mẫu số 02 – Thông báo tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin;
Mẫu số 03 – Thông báo giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin;
Mẫu số 04 – Thông báo gia hạn việc cung cấp thông tin;
Mẫu số 05 – Thông báo từ chối yêu cầu cung cấp thông tin;
Mẫu số 06 – Văn bản chấp thuận của cá nhân, tổ chức liên quan.
Đối với mẫu thông báo từ chối yêu cầu cung cấp thông tin có nội dung thông báo từ chối và lý do từ chối; còn khi gia hạn, cơ quan phải thông báo lý do gia hạn, thời gian gia hạn và thời gian cung cấp thông tin sau khi gia hạn.
Người dân được biết trước chi phí tiếp cận thông tin
Nghị định quy định chi phí tiếp cận thông tin phải được người yêu cầu cung cấp thông tin chi trả trước khi cơ quan, đơn vị cung cấp thông tin, trừ trường hợp không phải trả chi phí theo quy định của pháp luật có liên quan. Kinh phí thực hiện việc cung cấp thông tin của cơ quan nhà nước do ngân sách nhà nước bảo đảm, trừ trường hợp người yêu cầu phải thanh toán chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin theo quy định. Do đó, người dân cần phân biệt giữa quyền yêu cầu tiếp cận thông tin và các khoản chi phí thực tế có thể phát sinh trong quá trình in, sao, chụp hoặc gửi tài liệu.
Không được nhũng nhiễu, gây cản trở người yêu cầu cung cấp thông tin
Nghị định xác định rõ trách nhiệm của cơ quan và cán bộ được giao nhiệm vụ.
Người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm bảo đảm thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin của cơ quan, đơn vị mình; bố trí, xử lý người cung cấp thông tin thuộc thẩm quyền quản lý nếu có hành vi cản trở quyền tiếp cận thông tin của công dân. Đặc biệt, người được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin có trách nhiệm cung cấp thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ cho công dân; không được nhũng nhiễu, gây cản trở, khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Đơn vị đầu mối còn có trách nhiệm tiếp nhận, xử lý yêu cầu; hướng dẫn người dân; thông báo tiến độ; phối hợp xử lý phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo có liên quan và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin của công dân.
Tạo điều kiện cho người khuyết tật, người dân ở vùng khó khăn
Nghị định quy định riêng các biện pháp tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Tùy điều kiện thực tế, cơ quan có thể bố trí trang thiết bị, công nghệ hỗ trợ; bố trí người hướng dẫn, giải thích; tăng cường các hình thức cung cấp thông tin phù hợp với khả năng tiếp cận của người khuyết tật.
Đối với người dân sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, Nghị định yêu cầu áp dụng các biện pháp cung cấp thông tin phù hợp với điều kiện thực tế.
Các hình thức có thể bao gồm hệ thống phát thanh, truyền hình; tài liệu chuyên đề, tờ rơi, tờ gấp; hội nghị, hội thảo, cuộc họp; hoạt động văn hóa, sinh hoạt cộng đồng; đồng thời phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, người có uy tín trong cộng đồng để đưa thông tin đến người dân.
Khi có nhu cầu tiếp cận thông tin của cơ quan nhà nước, người dân và doanh nghiệp cần lưu ý: trước hết kiểm tra thông tin đã được công khai trên cổng/trang thông tin điện tử hay chưa; xác định đúng cơ quan có trách nhiệm cung cấp; ghi rõ thông tin cần yêu cầu trong Phiếu yêu cầu; lựa chọn phương thức nhận thông tin thuận tiện; đồng thời theo dõi thời hạn giải quyết và các thông báo tiếp nhận, gia hạn, từ chối hoặc cung cấp thông tin của cơ quan có thẩm quyền.
Nghị định số 337/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/9/2026.
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.